Trang thông tin điện tử tổng hợp
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

QUY TRÌNH ƯƠNG GIỐNG CÁ CHÉP V1

12/28/2023 - 8:46 AM
Ao ương cá giống nên sử dụng những ao cũ, diện tích ao 800 - 1.000 m2, độ sâu 1,2 - 1,5 m, thuận tiện giao thông, có nguồn nước cấp ổn định, không bị nhiễm các chất thải công nghiệp và thuốc trừ sâu, diệt cỏ.

Ao ương cá giống nên sử dụng những ao cũ, diện tích ao 800 - 1.000 m2, độ sâu 1,2 - 1,5 m, thuận tiện giao thông, có nguồn nước cấp ổn định, không bị nhiễm các chất thải công nghiệp và thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Có thể tháo cạn khi cần thiết, bờ ao chắc chắn, không rò rỉ. Ao ương cần đáp ứng các điều kiện như: Nhiệt độ nước thích hợp từ 28 – 30 0C. pH khoảng 7,5 - 8,5. Hàm lượng ôxy hòa tan lớn hơn 3 mg/lít. Sau khi lựa chọn ao, cần tiến hành cải tạo theo đúng quy trình. Đầu tiên, tháo cạn ao, dọn sạch cỏ trong ao và bờ ao, bờ ao bằng phẳng, không lồi lõm tránh địch hại trú ngụ. Vét bớt bùn lỏng đáy ao, chỉ để lại lớp bùn dày 10 - 15 cm, dùng vôi bột (CaO) rải đều bờ ao và đáy ao với lượng vôi 7 - 10 kg/100 m2 để khử trùng và điều chỉnh pH. Kết hợp bón lót phân đã ủ hoai với liều lượng 80 - 100 kg/100 m2. Phơi nắng ao 3 - 5 ngày đến khi ráo mặt ao (không phơi ao quá lâu sẽ có hiện tượng xì phèn); sau đó, lấy nước vào ao có chắn lưới lọc để ngăn địch hại, đảm bảo mực nước cao 60 - 80 cm. 

 

 

Hỏi: Chế độ chăm sóc cá chép V1 giai đoạn bột ương lên giống để đạt tỷ lệ sống cao?

 

Trong hai ngày đầu không cần cho cá ăn, vì lúc này trong ao đã có sinh vật phù du làm thức ăn cho cá. 8 ngày tiếp theo sử dụng thức ăn tổng hợp ương cá giống có hàm lượng đạm từ 40 - 42%, thức ăn dạng mảnh được pha loãng với nước rải đều mặt ao. Giai đoạn này, thức ăn đưa xuống ao vừa làm thức ăn cho cá vừa làm thức ăn cho sinh vật phù du.

 

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 30 có thể sử dụng thức ăn viên có kích thước 0,5 - 0,8 mm rải đều mặt ao. Mỗi ngày cho cá ăn hai lần vào sáng sớm và chiều mát. Lượng thức ăn mỗi ngày từ 0,5 - 1 kg/1 vạn cá/ngày.

 

Thời gian tiếp theo, cho cá ăn theo % trọng lượng cá. Để xác định tỷ lệ sống tương đối của cá, dùng vợt vớt khoảng 30 con kiểm tra trong lượng trung bình, sau đó xác định khối lượng cá có trong ao. Lượng thức ăn cho cá dao động từ 3 - 5% trọng lượng cá. Kích thước hạt thức ăn 1,5 - 2 mm. Ngày cho cá ăn 2 lần vào sáng sớm và lúc chiều mát.

 

Trong quá trình ương, cần bổ sung thêm các loại men vi sinh và Vitamin C trộn vào thức ăn để kích thích tiêu hóa và tăng cường sức đề kháng cho cá.

 

Hàng ngày chú ý theo dõi hoạt động bơi lội, bắt mồi của cá, tình hình thời tiết để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý. Thường xuyên kiểm tra bờ ao để phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng ao bị rò rỉ nước, bờ sụt lở. Khi thấy hiện tượng cá nổi đầu khác thường, phải nhanh chóng xác định nguyên nhân để có biện pháp xử lý.

 

Định kỳ 1 lần/tuần thay nước cho ao nuôi, mỗi lần thay khoảng 25 - 30% lượng nước ao. Luôn giữ mức nước ao khoảng 1 - 1,2 m. Cứ 2 tuần/lần kiểm tra sự tăng trưởng của cá bằng cách bắt ngẫu nhiên khoảng 30 cá thể để cân xác định trọng lượng thân. Khoảng 7 - 10 ngày tiến hành bổ sung thêm men vi sinh xử lý môi trường, tạo thức ăn tự nhiên cho cá.

 

 

Nguồn: Thủy sản Việt Nam.